cơn đau thắt ngực

                                       CƠN ĐAU THẮT NGỰC

I. Y HỌC HIỆN ĐẠI

1.1. Đại cương.

Cơn đau thắt ngực cấp tính ở vùng ngực, tập trung ở điểm giữa hay trên xương ức, xuất hiện khi gắng sức, có thể lan lên cánh tay trái hay cả hai tay, xung quanh ngực lên cổ tay hay lên hàm, đau có thể gây cảm giác ngột ngạt đè nén, co thắt hay tức, có khi có cảm giác tê hay bỏng, mất đi vài phút sau khi ngừng vận động hoặc sau khi ngậm Nitroglycerin.

1.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh.

1.2.1. Nguyên nhân thực thể.

Trên 90% các trường hợp do hẹp trên 50-70% lòng mạch của một hay nhiều động mạch vành.

– Vữa xơ động mạch vành là nguyên nhân chủ yếu hay gặp ở người có tuổi, hiếm gặp viêm động mạch chủ do giang mai làm hẹp lỗ của động mạch vành.

1.2.2. Cơ co thắt động mạch vành.

– Máu vào đọng mạch vành không đủ trong thì tâm trương nhịp tim nhanh quá, hở van động mạch chủ.

– Tăng thái quá nhu cầu oxy của cơ tim, hẹp chít van động mạch chủ.

– Giảm nồng độ oxy trong máu: giảm hồng cầu nhiều nhiễm độc oxyt carbon.

1.2.3 Cơ chế bệnh sinh.

– Khi gắng sức có Stress hệ giao cảm được kích thích giải phóng Catecholamin làm tăng tần số, tăng sức co bóp tim, tăng mạch ngoại vi, tăng mức tiêu thụ oxy dẫn đến cung lượng vành tăng. Trong bệnh thiếu máu cơ tim, động mạch vành bị hẹp, máu vào không đủ, tưới máu không đều làm cơ tim bị xơ hóa sau các cơn đau thắt gực làm cho công xuất của cơ tim và mức tiêu thụ oxy tăng dẫn đến với cùng một mức lao động yêu cầu oxy cao hơn, cơ thể phản ứng để đáp ứng.

– Tăng huy đọng tĩnh mạch về oxy.

– Tăng cung lượng vành, nhưng cũng chỉ tăng không quá 15-25% vì động mạch bị hẹp.

– Sử dụng chuyển hóa yếm khí.

Các phản ứng này cuối cùng cũng không giải quyết được cơ chế thiếu oxy gây rối loạn về chuyển hóa tế bào giải phóng nhiều kinin gây nên triệu chứng trong cơn đau thắt ngực.

Trong những năm gầy đây, yếu tố co thắt mạch vành (có thể xảy ra đột nhiên) đã được chấp nhận trong cơ chế bệnh sinh, nhiều trường hợp nhồi máu cơ tim xuyên thanh mà không thấy hẹp tắc khi chụp động mạch vành.

1.3. Triệu chứng cơn đau thắt ngực

1.3.1 Lâm sàng.

– Hoàn cảnh xuất hiện

+ Trong thể thứ phát thường xảy ra khi gắng sức, khi có Stress sau tắm lạnh, ăn quá nhiều mỡ, làm vữa xơ lòng động mạch vành.

+ Trong thể tiên phát (Tự phát cơn đau xảy ra đột nhiên bất cứ lúc nào).

– Cơn đau điển hình: đau đột ngột thường ở sau xương ức (vị trí 1/3 trên, 1/3 giữa hoặc vùng trước tim).

+ Tính chất đau: như co thắt tim, đau tức, đè nén, buộc bệnh nhân phải ngừng các hoạt đọng, thậm chí ngừng thở.

+ Đau có thể lan ra cánh tay trái hoặc cả 2 tay, 2 vai lên cổ, lên hàm ra sau lưng, kèm theo vã mồ hôi, lo lắng.

+ Cơn đau mất đi nhanh chóng sau khi ngậm Nitroglycerin hoặc ngừng vận động. Lâm sàng cần chú ý nhiều khi có cơn đau không điển hình ( thể thầm lặng).

– Mạch, huyết áp bình thường hoặc tăng nhẹ.

1.3.2. Cận lâm sàng,

– Điện tim ghi trong cơn: Đoạn ST chệnh xuống, sóng T dương nhọn đối xứng (sóng tổn thương và thiếu máu dưới nội tâm mạc).

Hoặc đoạn ST chệnh lên sóng T âm nhọn, đối xứng (sóng tổ thương và thiếu máu dưới thương tâm mạc).

– Sinh hóa: không có thay đổi các men tim.

– Thăm dò hình ảnh thiếu máu cơ tim bằng phóng xạ và chụp động mạch vành để chẩn đoán.

1.3.3. Các thể bệnh.

– Cơn đau thắt ngực thể ổn định: cơn đau chỉ xảy ra khi có tăng yêu cầu về oxy, ổn định thời gian dài, nên hạn chế gắn sức và Stress.

– Cơn đau thắt ngực thể không ổn định: thường xảy ra khi tăng nhu cầu về oxy và co mạch, bệnh nhân đau nhiều hơn, cơn đau thường xuất hiện dày hơn, Nitroglycerin không cắt được cơn đau hoàn toàn, dễ tiến triển sang nhồi máu cơ tim.

– Cơn đau thắt ngực thể Prinzmetl: do hẹp thân động mạch vành cơn đau tự phát đột ngột trong lúc nghỉ nhất là đêm hay tái phát. Dùng Nitroglycerin ít có kết quả.

– Thể thầm lặng: điện tim trên Monitor có dấu hiệu đặc trưng của suy vành.

1.4. Chẩn đoán.

1.4.1. Chẩn đoán hình ảnh.

– Hoàn cảnh xuất hiện.

– Tính chất cơn đau, vị trí cơn đau: Cơn đau mất đi nhanh sau khi ngậm Nitroglycerin hoặc ngừng vận động.

– Điện tim trong cơn: đoạn ST chênh lên, sóng T nhọn dương hoặc âm đối xưng.

– Sinh hóa: men tim không có thay đổi.

1.4.2. Chẩn đoán phân biệt.

– Nhồi máu cơ tim: cơn đau, hình ảnh điện tim đặc trưng sóng Q. Tăng các men tim (nhất là LDH – 1).

– Viêm màng tim cấp: Bệnh lý cấp tính.

– Phình bóc tách động mạch chủ đoạn trên.

– Tràn khí trung thất.

1.5. Điều trị.

1.5.1. Điều trị nội khoa.

– Ngừng vận động.

Thể ổn định: Nitroglycerin 0,5 – 0,75 mg ngậm 11 viên dưới lưỡi hoặc bơm Natispray 2 lần vào niêm mạc miệng.

– Thể không ổn định.

– Phối hợp 2 thuốc trong các thuốc Nitrat, ức chế thụ cảm B pha, ức chế Calci, Aspirin 75-160 mg/ngày.

– Vastarel 20mg uống 2-3 viên / ngày có thể cho Seduxen 5mg.

– Hết cơn đau thì sang điều trị củng cố, dự phong tái phát.

1.5.2. Điều trị ngoại khoa.

– Cầu nối chủ vành.

+ Kỹ thuật tạo hình động mạch vành.

+ Kỹ thuật lấy mảng vữa xơ trong động mạch vành.

cơn đau thắt ngực
Cơn đau thắt ngực

II. CƠN ĐAU THẮT NGỰCC THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN.

2.1. Bệnh danh

Tâm thống.

2.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh.

2.2.1. Nguyên nhân.

– Do rối loạn công năng của tạng phủ, đặc biệt là tâm, tỳ, can, thận.

– Do phong, hàn, thấp xâm nhập.

2.2.2. Cơ chế bệnh sinh.

Khí tạng thận không đầy đủ, dương khí của thận thiếu thì dương khí của ngũ tạng đều hư. Khi thận âm không đầy đủ, thủy không dưỡng mộc sinh ra tâm can âm hư, tâm can hỏa vượng lâu ngày làm tổn thương khí huyết dẫn đén huyết lưỡng hư.

Can chủ sơ tiết, khi can khí uất, khí trệ thì huyết ứ. Tỳ chủ vận hóa, tỳ mất kiện vận sinh thấp tụ, đàm ngưng.

“Linh khu – Kinh mạch thiên nói: Thủ thiếu âm tâm khí tuyệt thì mạch không thông, bất thông thì thống.

Như vậy đặc điểm cơ chế bệnh cơ bản của tâm thống là gốc hư, ngọn thực do đó lây ích khí hoạt huyết” là cách trị cơ bản của chứng bệnh này.

2.3. Biện chứng luận trị.

2.3.1. Thể khí hư huyết ứ.

* Chứng trạng.

Ngực sườn trướng tức, hụt hơi, đau nhói vùng trước tim, tinh thần mệt mỏi, tứ chi vô lực, tự đổ mồ hôi, ăn kém, chất lưỡi tối hoặc ban ứ, rêu mỏng mạch tế sáp.

* Phương pháp điều trị.

Ích khí hoạt huyết.

* Bài thuốc: Tứ vật đào hồng thang ( Hòa tễ cục phương) gia giảm.

Hoàng kỳ 30g Đẳng sâm 15g
Đương quy 20g Xuyên khung 15g
Đào nhân 10g Hồng hoa 6g
Xích thược 15g

* Ý nghĩa bài thuốc.

Đẳng sâm, Hoàng kỳ bổ ích nguyê khí, Đương quy, Xuyên khung dưỡng huyết hoạt huyết, Đào nhân, Hồng hoa, Xích thược hoạt huyết hành ứ, ngoài dùng nhóm thuốc bổ khí hoạt huyết ra, còn có thể cho thêm thuốc lý khí hành khí.

2.3.2. Thể khí trệ huyết ứ.

* Chứng trạng.

Ngực trướng đầy đau, ngột thở, đau nhói vùng trước tim hoặc lan ra tay, mặt môi đỏ sẫm, lưỡi tím tối, mép lưỡi có ban ứ, mạch huyền tế sác hoặc kết đại.

* Pháp điều trị.

Hành khí hoạt huyết, hóa ứ chỉ thống.

* Bài thuốc: Huyết phụ trục ứ thang (Y lâm cải sái) gia giảm.

Đẳng sâm 20g Uất kim 15g
Hồng hoa 10g Hương phụ 12g
Đào nhân 10g Huyền hồ 12g
Xích thược 15g Xuyên khung 12g

* Ý nghĩa bài thuốc:

Đan sâm hoạt huyết hóa ứ, chỉ thống, Xích thược thông ứ tiêu trệ trong huyết, Đào nhân, Hồng hoa hoạt huyết hóa ứ, Uất kim, Huyền hồ, Hương phụ lý khí chỉ thống. Bài thuốc có công dụng hành khí chỉ thống, vận dụng rộng rãi các chứng đau huyết ứ.

2.3.3. Thể tâm tỳ hư.

* Chứng trạng.

Tức ngực, tim hồi hộp, đoản hơi, tiếng nói nhỏ, tinh thần mệt mỏi, tứ chi vô lực, sắc mặt trắng, mất ngủ, hay quên, hoảng sợ, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm tế.

* Pháp điều trị,

Kiện tỳ dưỡng tâm, hoạt huyết hóa ứ thông đàm.

* Bài thuốc: Quy tỳ thang ( Tế sinh phương”) gia giảm.

Đẳng sâm 15g Hoàng kỳ 15g
Phục thần 10g Toan toán nhân 10g
Đương quy 10g Bạch truật 10g
Mộc hương 5g Chích thảo 30g
Đan sâm 20g

* Ý nghĩa bài thuốc.

Đảng sâm, bạch truật, phục linh, chích thảo, kiện tỳ ích khí, cho thêm Hoàng kỳ tăng cường công hiệu ích khí, Toan táo nhâ, Đương hương lý khí tỉnh tỳ, khiến cho bổ mà không trệ, Đan sâm hoạt huyết thông lạc.

2.3.4. Thể tâm dương hư.

* Chứng trạng.

Vùng ngực đau kéo dài có khi thành cơn, ngạt thở, tim hồi hộp, đoản hơi, sắc mặt xanh tím, mệt mỏi bơ phờ, tự ra mồ hôi, chân tay lạnh, lưỡi nhạt, chất tím, rêu lưỡi trắng, hoặc trắng nhớt, mạch tế hoãn hoặc kết đại.

* Phương pháp điều trị.

Ôn dương thông lạc, trừ đàm, chỉ thống.

* Bài thuốc: Chỉ thực phỉ bạch quế chi thang (Kim quỹ yếu lược) gia giảm.

Qua lâu nhân 10g Phỉ bạch 10g
Chỉ thực 10g Bán hạ chế 10g
Hậu phác 10g Quế chi 6g
Đan sam 15g Chích cam thảo 3g

* Ý nghĩa bài thuốc.

Qua lâu nhân trừ đàm hạ khí, Phỉ bạch thông dương tán kết, Bán hạ, CHỉ thực, Hậu phác lý khí, hóa thấp khai thông. Quế chi thông lợi huyết mạch, Đan sâm, Cam thảo hoạt huyết dưỡng tâm.

2.3.5. Thể đàm trọc ngăn trở.

* Chứng trạng.

Ngực bí bụng đầy, trướng đau, tim hồi hộp hụt hơi, miệng đắng, bụng trướng ăn ít hoặc kèm ho, váng đầu, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch hoạt sác.

* Pháp điều trị.

Thanh nhiệt hóa đàm, khoan hung hoạt huyết.

* Bài thuốc: Tiểu hãm hung thang (Thương hàn luận) gia giảm.

Hoàng liên 3g Bán hạ chế 10g
Thạch xương bồ 10g Ý dĩ nhân 15g
Phục linh 10g Trần bì 6g
Xích thược 15g Đan sâm 20g

* Ý nghĩa bài thuốc.

Hoàng liên tả thanh nhiệt, Bán hạ táo thấp hóa đàm, hòa vị dứt nôn, Trần bì lý khí hóa đàm, khí thuận thì đàm giáng xuống, khí hóa thì đàm hóa, Ý dĩ nhân, Phục linh kiện tỳ lợi thấp, Thạch xương bồ hương thơm khai khiếu, hóa trọc hòa trung, Xích thược, Đan sâm hoạt huyết thông lạc.

2.3.6. Phương pháp điều trị khác

* Phương pháp châm cứu.

– Thể châm.

– Chọn huyệt: huyệt Giáp tích L4 – 5 Nội quan.

– Phối huyệt: Chiên trung, Tam âm giao, Tâm du.

Liệu trình: mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 30 phút, mỗi liệu trình 10 lần x 3 liệu trình.

– Nhĩ châm: Các điểm: tâm, Thần môn, Nội tiết.

2.4. Phòng bệnh.

– Phòng ngừa vữa xơ động mạch, áp dụng chế độ ăn uống hợp lý, tránh ăn quá nhiều các mỡ động vật như mỡ lợn, bơ, thịt mỡ…và các thức ăn nhiều Cholesterol (như não, gan, thận, lòng đỏ trứng…) ăn nhiều các thức ăn giàu các chất K cộng, Mg, sihntoos ở các rau quả như rau xanh, Cải bắp, Hạt cát cánh, Táo…

– Tránh gió lạnh và những xúc cảm quá mức, kiêng rượu bia, cai thuốc, rèn luyện thể dục nhẹ nhàng, phù hợp.

– Điều trị dự phòng các nguy cơ gây tắc nghẽn động mạch vành nuôi tim, bao gồm nghỉ ngơi, dùng thuốc chống đông máu tích đáng, như các thuốc hoạt huyết hóa ứ loại Xuyên khung, Đan sâm, Xích thược…có thể uống dài ngày các thuốc bổ ích tâm khí như Nhân sâm, Hoàng kỳ…để tăng cường sức co bóp của cơ tim, cải thiện chức năng tim.

Bài viết tương tự

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *